Chuyên đề:

RÈN HỌC SINH GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN LỚP 4-5

 

1. Thực trạng

1. Về giáo viên:

- Căn cứ vào tình hình thực tế ở một số tiết dạy của giáo viên qua môn Toán, chúng tôi nhận thấy:

- Kết hợp vận dụng một số phương pháp dạy – học chưa linh hoạt hiệu quả tiết dạy chưa như mong muốn.

- Tổ chức các hoạt động còn mang tính hình thức chưa phát huy được tác dụng của hoạt động

- Giáo viên làm việc nhiều, chưa phát huy được tính tích cực chủ động của học sinh trong hoạt động dạy học.

b. Về học sinh:

- Một số em tính toán chưa chính xác, hiểu sai các lệnh yêu cầu.

- Vận dụng vào thực hành còn chậm, chưa biết cacchs khai thác bài toán.

- Từ thực tế nêu trên chúng ta cần có sự thống nhất cao phương pháp dạy nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy – học trong phân môn toán cho các em học sinh có vốn kiến thức khá phong phú hơn hoàn chỉnh hơn ở bậc tiểu học.

 

2. Tổ chuyên môn bồi dưỡng giáo viên nâng cao nhận thức về

- Phương pháp dạy học môn Toán có văn lớp 4-5

- Những biện pháp thực hiện để nâng cao chất lượng

- Thống nhất nội dung, phương pháp dạy môn Toán lớp 4-5 và cách nhận xét quá trình học tập của học sinh

- Thể hiện tiết dạy minh họa bài: Ôn tập toán có văn

- Người thực hiện Thầy Hứa Việt Hồ

 

3. Các phương pháp dùng để dạy giải bài toán có lời văn

a/ Phương pháp trực quan

Nhận thức của trẻ từ 6 đến 11 tuổi còn mang tính cụ thể, gắn với các hình ảnh và hiện tượng cụ thể, trong khi đó kiến thức của môn toán lại có tính trừu tượng và khái quát cao. Sử dụng phương pháp này giúp học sinh có chỗ dựa cho hoạt động tư duy, bổ sung vốn hiểu biết, phát triển tư duy trừu tượng và vốn hiểu biết. Ví dụ: khi dạy giải toán ở lớp Năm, giáo viên có thể cho học sinh quan sát mô hình hoặc hình vẽ, sau dó lập tóm tắt đề bài, rồi mới đến bước chọn phép tính.

b/ Phương pháp thực hành luyện tập

Sử dụng phương pháp này để thực hành luyện tập kiến thức, kỹ năng giải toán từ đơn giản đến phức tạp ( Chủ yếu ở các tiết luyện tập ). Trong quá trình học sinh luyện tập, giáo viên có thể phối hợp các phương pháp như: gợi mở - vấn đáp và cả giảng giải - minh hoạ.

c/ Phương pháp gợi mở - vấn đáp

Đây là phương pháp rất cần thiết và thích hợp với học sinh tiểu học, rèn cho học sinh cách suy nghĩ, cách diễn đạt bằng lời, tạo niềm tin và khả năng học tập của từng học sinh.

 

d/ Phương pháp giảng giải - minh hoạ

Giáo viên hạn chế dùng phương pháp này. Khi cần giảng giải - minh hoạ thì giáo viên nói gọn, rõ và kết hợp với gợi mở - vấn đáp. Giáo viên nên phối hợp giảng giải với hoạt động thực hành của học sinh ( Ví dụ: Bằng hình vẽ, mô hình, vật thật...) để học sinh phối hợp nghe, nhìn và làm.

e/ Phương pháp sơ đồ đoạn thẳng:

Giáo viên sử dụng sơ đồ đoạn thẳng để biểu diễn các đại lượng đã cho ở trong bài và mối liên hệ phụ thuộc giữa các đại lượng đó. Giáo viên phải chọn độ dài các đoạn thẳng một cách thích hợp để học sinh dễ dàng thấy được mối liên hệ phụ thuộc giữa các đại lượng tạo ra hình ảnh cụ thể để giúp học sinh suy nghĩ tìm tòi giải toán.

 

4. Một số biện pháp để nâng cao chất lượng giải toán có lời văn ở lớp 4-5

a. Phân loại bài toán có lời văn

Để giải được bài toán thì học sinh phải hiểu đề bài, hiểu các thành phần của nó. những cái đã cho và những cái cần tìm thường là những số đo đại lượng nào đấy được biểu thị bởi các phép tính và các quan hệ giữa các số đo. Dựa vào đó mà có thể phân loại các bài toán:

b. Nâng cao chất lượng giờ dạy trên lớp

Đây là biện pháp trọng tâm, để HS nắm chắc cách giải toán có lời văn, người GV cần hướng dẫn HS nắm được các bước chung trước khi làm bài.

+ Đọc kĩ đề toán để xác định yêu cầu của đề ( những điều đã cho và những cái phải tìm)

+ Tóm tắt đề toán bằng sơ đồ, hình vẽ, ngôn ngữ, kí hiệu ngắn gọn.

+ Phân tích đề toán để tìm cách giải.

+ Giải bài toán và thử lại.

c. Phân loại theo số các phép tính:

Bài toán đơn: là bài toán mà khi giải chỉ cần 1 phép tính. Ở lớp 4-5 loại toán này thường được dùng để nêu ý nghĩa thực tế của phép tính, nó phù hợp với quá trình nhận thức: Thực tiễn – tư duy trừu tượng - thực tiễn.

Ví dụ : Để dạy trừ số đo thời gian có bài toán “Một ô tô đi từ Huế lúc 13 giờ 10 phút và đến Đà Nẵng lúc 15 giờ 55 phút. Hỏi ô tô đó đi từ Huế đến Đà Nẵng hết bao nhiêu thời gian? ” (Ví dụ sách giáo khoa trang 132) . Từ bản chất của bài toán học sinh hình thành phép trừ.

15 giờ 55 phút – 13 giờ 10 phút = 2 giờ 45 phút.

Bài toán hợp: là bài toán mà khi giải cần ít nhất 2 phép tính. Loại bài toán này thường dùng để luyện tập, củng cố kiến thức đã học. Ở lớp 5, dạng toán này có mặt ở hầu hết các tiết học toán.

d. Phân loại theo phương pháp giải

Trong thực tế, nhiều bài toán có nội dung khác khau nhưng có thể sử dụng cùng một phương pháp suy luận để giải.

Từ những việc đã được phân tích rất cụ thể trên thì chúng ta cũng cần hình thành cho học sinh các bước chung khi giải toán.

Bước 1: Phân tích ý nghĩa bài toán

 

Đây là bước đầu tiên trong các yêu cầu giải toán. Trước hết các em cần đọc đề bài nhiều lần, suy nghĩ về ý nghĩa của từng chữ, từng câu, từng số của bài toán và đặt biệt chú ý tới câu hỏi của bài toán hỏi gì? -Từ đó cần biết những gì bài toán đã cho biết? Trong bước này cần nhắc nhở học sinh chớ vội vàng tính toán khi chưa nghiên cứu kỹ đề bài.

Bước 2: Tóm tắt đề bài toán

Đây là bước thiết lập mối quan hệ giữa các yêu cầu đã cho và cho học sinh diễn đạt nội dung bài toán bằng ngôn ngữ, kí hiệu ngắn gọn, có thể tóm tắt đề toán bằng chữ hoặc minh họa bằng sơ đồ, doạn thẳng, hình vẽ.

Bước 3: Suy nghĩ để thiết lập khi giải toán

Bước này yêu cầu học sinh phải suy nghĩ, tư duy xem muốn trả lời câu hỏi của bài toán thì phải biết đề toán đã cho biết những gì? Làm tính gì? Và phép tính đó cần thiết cho việc trả lời câu hỏi của bài toán không? Từ đó học sinh suy nghĩ để có thể thiết lập trình tự giải bài toán.

Bước 4: Thực hiện phép tính kèm lời văn

Đây là bước quan trọng mà học sinh phải thực hiện đầy đủ trong bài làm, các em phép tính nào cũng cần tự kiểm tra phép tính đúng hay nhầm lẫn và lời văn phải phù hợp với phép tính đó.

Bước 5: Thử lại kết quả

Đây là bước cuối cùng yêu cầu học sinh xem đáp số tìm được có trả lời đúng câu hỏi của bài toán, có phù hợp với nội dung bài toán không? Nếu có thể nên tìm cách nào ngắn gọn hơn

Ví dụ 1 : Bài 1 ( Tr 151- Toán 4)

Hiệu của 2 số là 85. Tỉ số của 2 số đó là 3/8. Tìm 2 số đó?

Với bài toán trên tôi hướng dẫn HS giải theo các bước sau:

+ Bước 1: Yêu cầu HS đọc kĩ đề bài, xác định được tổng và tỉ số của 2 số. Tự dự kiến cách tóm tắt bài toán theo dữ liệu của đề bài.

 

+ Bước 3: Dựa vào sơ đồ để phân tích bài toán, tìm phương án giải.

GV hướng dẫn HS phân tích bài toán theo các câu hỏi sau:

- Nhìn vào sơ đồ em thấy : Giá trị của số bé gồm mấy phần? Giá trị của số lớn gồm mấy phần như thế?

- Hiệu của 2 số là bao nhiêu?

- Muốn tìm giá trị một phần em làm thế nào?

- Khi tìm được giá trị 1 phần, ta cần đi tìm những gì tiếp theo?

 

+ Bước 4: Giải bài toán

Bài giải

  1. số phần bằng nhau là: 8 - 3 = 5 ( Phần )

Giá trị một phần là: 85 : 5 = 17

Số bé là: 17 X 3 = 51

Số lớn là: 51 + 85 = 136

Đáp số: Số bé: 51

Số lớn: 136

+ Bước 5: Thử lại tính hiệu của 2 số: 136 - 51 = 85 ( Đúng theo dữ liệu đầu bài )

 

e. Tự tin và quyết tâm thực hiện việc đổi mới phương pháp dạy học:

Để phát huy tính tích cực, chủ động, say mê học tập môn Toán nói chung và giải bài toán có lời văn nói riêng cho các em học sinh, giáo viên phải tự tin và quyết tâm trong việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học. Phải kết hợp nhuần nhuyễn và linh hoạt các phương pháp dạy học truyền thống và hiện đại như: Phương pháp thuyết trình, giảng giải và minh họa, gợi mở vấn đáp, trực quan, thực hành luyện tập. Tăng cường tổ chức các hoạt động học tập cá thể phối hợp với học tập hợp tác.

g. Tổ chức các trò chơi toán học:

Tổ chức cho HS tham gia các trò chơi học tập kết hợp trong các tiết dạy. GV phải xác định rõ kiến thức và kỹ năng của trò chơi. Chuẩn bị chu đáo, hướng dẫn rõ ràng cách chơi, luật chơi, thực hiện đúng lúc với các trò chơi hợp lý, cân đối với các hoạt động của tiết dạy. Tổ chức các trò chơi trong toán học như: Tiếp sức, ai đúng ai nhanh, …..

Thông qua việc tổ chức thành công các trò chơi, GV đã tạo không khí thoải mái, nhẹ nhàng, kích thích các hoạt động học tập của HS. Củng cố chắc chắn các kiến thức, kỹ năng cần đạt trong tiết dạy cho HS.

5. Giá trị phục vụ

Chuyên đề này đã áp dụng thành công trong tổ 4-5 năm học qua. Nay triển khai rộng rãi trong đơn vị để thầy cô tham khảo và áp dụng được thuận lợi hơn.

Khi dạy môn Toán đòi hỏi mỗi giáo viên phải biết lựa chọn và sử dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức dạy học khác nhau tùy theo tình hình thực tế học sinh lớp mình nhằm đặt mục tiêu quan trọng nhất là làm cho học sinh tự chiếm lĩnh được kiến thức, tạo ra sự phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh.

 

Vĩnh Mỹ A, ngày 12 tháng 11năm 2017

DUYỆT CỦA HT TỔ TRƯỞNG

 

 

 

 

La Hoàng Thảo