I. THỰC TRẠNG:

- Tình hình giáo viên lên lớp hướng dẫn học sinh chưa có trọng tâm, chưa giúp học sinh tư duy lô gich, thậm chí sự hướng dẫn tổ chức của giáo viên còn gây ra sự khó hiểu cho học sinh, làm hụt hẩn kiến thức ở sách giáo khoa và đặc biệt một số giáo viên tỏ ra lúng túng khi dạy học sinh giải loại toán tìm thành phần chưa biết .

- Học sinh tiếp thu bài một cách máy móc, chưa biết trình bày theo đúng trình tự cách giải toán tìm X một cách có hệ thống, một số học sinh trên chuẩn tạm thời giải đúng theo mẫu giáo viên cung cấp còn lại số học sinh dưới chuẩn chỉ biết giải toán tìm X theo cảm tính chưa gắn kết được sự hiểu biết kiến thức trong đó .

- Nhiều HS không nắm vững các quy tắc tìm thảnh phần chưa biết. Có em thuộc quy tắc nhưng không biết vận dụng vào bài làm.

II. NHỮNG BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH GIẢI LOẠI TOÁN TÌM THÀNH PHẦN CHƯA BIẾT Ở BẬC TIỂU HỌC :

1. Xác định đúng tên thành phần trong phép tính:

Để các em nắm và biết cách giải được bài toán tìm x, trước hết phải củng cố và khắc sâu cho học sinh nhớ được tên gọi các thành phần và kết quả của bốn phép tính đã học. Tức là phải cho học sinh nêu được tên gọi thành phần và kết quả của các phép tính:

Phép cộng: Số hạng + Số hạng = Tổng

Phép trừ : Số bị trừ - Số trừ = Hiệu

Phép nhân: Thừa số x Thừa số = Tích

Phép chia : Số bị chia : số chia = Thương

Để học sinh gọi đúng tên thành phần trong phép tính. Khi làm các bài tập dạng tìm x tôi thường hỏi lại tên các thành phần trong phép tính ấy rồi cho 3,4 học sinh nhắc lại, cả lớp nhắc lại để cho các em nhớ lại và khắc sâu hơn kiến thức.

Ví dụ: Bài 1:Tìm x (SGK Toán trang 46)

  1. x + 8 = 10 b) x + 7 = 10 c) 30 + x = 58

+Trước khi thực hiện bài tập tôi hỏi bài tập yêu cầu tìm gì?

Trong phép tính x+ 8 = 10, chữ cái x được gọi là gì? (Số hạng)

8 được gọi là gì? (Số hạng)

10 được gọi là gì? (Tổng)

+ Sau đó gọi 3,4 học sinh nói lại từng tên gọi thành phần trong phép

x + 8 = 10

+ Giáo viên chỉ và cả lớp nhắc lại.

- Và tương tự với các bài toán tìm x trong phép trừ, phép nhân, phép chia tôi cũng làm như vậy. Ngoài ra trong các giờ ôn tập hoặc bồi dưỡng học sinh theo kế hoạch của trường, tôi cho các em chép lại tên thành phần của các phép tính và kết quả của phép tính ấy ra vở nháp.

2.Thuộc quy tắc tìm thành phần đó:

- Ở lớp 2(Chương trình Tiểu học mới) bắt đầu có dạng toán tìm x liên quan đến 4 phép tính cộng, trừ, nhân, chia. Cụ thể là các dạng cơ bản sau:

x + a = b (Tìm số hạng chưa biết)

x – a = b (Tìm số bị trừ chưa biết)

 

a – x = b (Tìm số trừ chưa biết)

a x x = b (Tìm thừa số chưa biết) hoặc x x a = b

x : a = b (Tìm số bị chia chưa biết)

- Khi làm các bài tập dạng này, yêu cầu dựa vào mối quan hệ giữa thành phần và kết quả của phép tính để tìm x.

Ví dụ: x + 3 = 7

x = 7 – 3 (số hạng trong một tổng bằng tổng trừ đi số hạng kia)

x = 4

 

Ví dụ: x – 5 = 4

x = 4 + 5 (Số bị trừ bằng hiệu cộng với số trừ)

x = 9

Ví dụ: 10 – x = 2

x = 10 – 2 (Số trừ bằng số bị trừ trừ đi hiệu)

x = 8

Ví dụ: X x 5 = 10

X = 10 : 5 (Thừa số bằng tích chia cho thừa số kia)

X = 2

Ví dụ: x : 2 = 5

x = 5 x 2 (Số bị chia bằng tích của thương và số chia)

x = 10

 

- Xét đến yêu cầu giải bài tập việc thuộc quy tắc cũng rất cần thiết. Sau khi học bài mới hình thành các quy tắc trên tôi yêu cầu về nhà các em học thuôc.

 

3. Áp dụng các qui tắc tổng quát để viết thành biểu thức toán cụ thể.

Căn cứ vào những lý luận đề ra và căn cứ vào việc thể hiện vai trò, điều kiện của giáo viên trên lớp. Đây là một việc làm hết sức quan trọng. Nếu giáo viên áp dụng qui tắc tổng quát để viết đúng những biểu thức toán học cụ thể thì bài tập mới có thể được giải đúng.

Việc sử dụng các phép toán trong bài các em thật sự thể hiện trí tuệ và tư duy. “Tính phó thác mặc cho may rủi của cộng trừ, nhân chia một cách máy móc mới được khắc phục”. Và phải áp dụng như thế nào là hữu hiệu? Theo tôi trong chừng mực này không gì hơn là yêu cầu các em rèn luyện lien tục. Tuyệt đối cấm sử dụng cách đổi dấu (+ thành – và dấu – thành dấu + hoặc dấu x thành dấu : và dấu : thành dấu x…). Vì tiểu học là bậc học chưa học hết số âm, đồng thời trong phạm vi đại số thì đây mới là bậc học xây dựng cơ sở lí luận ban đầu cho các em. Nên tạm thời chưa được phép sử dụng giá trị đã được quy nạp như thế.

Ví dụ như: Muốn tìm thừa số chưa biết, muốn tìm số bị chia chưa biết.

Giáo viên cần hỏi lại qui tắc để các em áp dụng tính toán.

x x 2 = 8

Giáo viên hỏi lại muốn tìm thừa số chưa biết ta phải làm như thế nào? (Muốn tìm thừa số chưa biết ta lấy tích chia cho thừ số đã biết)

x : 5 = 4

Giáo viên hỏi lại muốn tìm số bị chia ta phải làm thế nào? (Muốn tìm số bị chia ta lấy thương nhân với số chia)

 

Khi các em đã thấy được đâu là thừa số đã biết, đâu là thừa số chưa biết, đâu là tích, đâu là số bị chia,… thì các em thực hiện được nhanh, chính xác.

4. Nguyên nhân dẫn đến sai sót và cách khắc phục

* Trường hợp1 : Nêu phép tính giải sai

Ví dụ: Bài 2 (trang 124 SGK )

Tìm x biết x x 2 = 6

Có học sinh làm :

x x 2 = 6

x = 6 x 2

x = 12

Bài giải đúng phải là :

x x 2 = 6

x = 6 : 2

x = 3

Như vậy, lẽ ra phép tính phải là phép tính chia nhưng học sinh đó lại làm bằng phép tính nhân.

Nguyên nhân của sai lầm trên là do học sinh chưa nắm được cách tìm thừa số chưa biết. Điều này rơi vào những em chưa hiểu rõ bản chất của phép tính, chưa thấy mối liên hệ ngược giữa 2 phép tính nhân chia.

Hướng dẫn khắc phục như sau :

Trước hết giúp học sinh tự phát hiện chỗ sai của mình làm:

Thay x = 12 vào phép tính được x x 2 = 12 x 2 rồi so sánh với kết quả 6 (không cần làm tính ), tự học sinh thấy đựơc:

12 x 2 > 6

Gợi ý HS nhớ lại cách tìm thừa số chưa biết và điều quan trọng là phải để học sinh tự giác làm bài, tự củng cố cách tìm thành phần chưa biết.

Nếu HS không tự giác khái quát được chẳng qua là các em không nhớ tên gọi thành phần của các phép tính đó. Do đó phải cho các em tự nhắc lại tên từng thành phần thật rõ ràng, cụ thể và tập diễn đạt, chứ không chỉ coi trọng việc tìm kết quả mà xem nhẹ việc rèn luyện khả năng khái quát của các em.Đối với những em khả năng ghi nhớ chưa tốt cần quan tâm đến việc dạy cá thể hoá, dạy riêng, kèm riêng em đó, tranh thủ mọi thời gian để giúp đỡ.

Chẳng hạn: Đối với việc tìm số hạng chưa biết. Điều này đòi hỏi các em phải hiểu rõ bản chất của phép cộng các số tự nhiên là "thêm vào " là "gộp" các số với nhau.

Từ đó dễ dàng thấy được một cách tự nhiên là:

Số hạng này bằng tổng trừ đi số hạng kia.

* Trường hợp 2: Viết thừa hoặc thiếu thành phần trong bước giải ở lớp 2, dạng bài "Tìm x biết x : a = b " mới dừng lại ở mức độ đơn giản nên ở đây tôi chủ yếu đi sâu vào lỗi viết thừa thành phần trong bước giải.

Ví dụ : x x 2 = 12

Có học sinh làm như sau :

x x 2 = 12

x x 2 = 12 : 2

x = 6

Nhận Xét: học sinh viết thừa x x 2

Lẽ ra phải viết x = 12 : 2

 

Có thể sửa như sau :

+ Trước hết yêu cầu học sinh tự phát hiện chỗ sai.

+ Nếu học sinh không tự phát hiện được chỗ sai thì có thể hỏi:

Phép chia 12 : 2 để tìm gì (tìm x) vậy tại sao viết x x 2 , viết như vậy có đúng không? Hiện tượng viết thừa, viết sai như trên tượng đối phổ biến ở một số học sinh, có thể do một số giáo viên khi xem xét bài làm của học sinh chưa thật kỹ, chỉ lướt qua phép tính và kết quả. Dẫn đến viết thừa, viết thiếu, mất đi sự chính xác của bài làm. Việc xem xét kỹ bài làm của học sinh là yếu tố cần thiết của mỗi giáo viên, giúp ta kịp thời uốn nắn sai sót cho các em.

III. KẾT LUẬN

- Giáo viên từng lớp nắm chắc nội dung chương trìnhtoán tìm thành phần chưa biết ở lớp mình phụ trách ( Căn bản – tiếp nối – nâng cao ) kiến thức toán tìm thành phần chưa biết, từ đó lựa chọn hình thức và phương pháp dạy cho HS đạt hiệu qủa khá tốt .

- Giáo viên lên lớp dạy loại toán tìm thành phần chưa biết giảng giải phải đi vào trọng tâm , biết chọn lọc hệ thống câu hỏi ngắn gọn đi sâu vào nội dung kiến thức giúp HS dễ dàng phát hiện và chiếm lĩnh kiến thức .

- Hoạt động dạy – học trên lớp diễn ra tự nhiên. phát huy hết khả năng tích cực sáng tạo của HS, thu hẹp sự áp đặt khuôn mẫu của GV đối với HS .

- GV nắm vững cách hướng dẫn HS giải loại toán tìm thành phần chưa biết bằng cách áp dụng quy tắc tìm thành phần chưa biết trong 4 phép tính và ở cấc lớp này GV cần phải có sử dụng tốt nhiều ĐDDH giúp HS vừa học vừa chơi nhớ sâu sắc cách giải toán.

 

Duyệt của lãnhđạo TTCM

 

 

 

Phạm Hồng Ngôn