Chuyªn §Ò

MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 3

I. MỤC TIÊU DẠY HỌC MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 3:

1. Mở rộng vốn từ theo chủ điểm, củng cố hiểu biết về các kiểu câu (thông qua các mô hình) và thành phần câu (thông qua các câu hỏi) đã học ở lớp 2. Cung cấp cho HS một số hiểu biết sơ giản về các phép tu từ so sánh và nhân hóa (thông qua các BT).

2. Rèn luyện cho HS các kĩ năng dùng từ đặt câu và sử dụng một số dấu câu.

3. Bồi dưỡng cho HS thói quen dùng từ đúng, nói và viết thành câu; có ý thức sử dụng tiếng Việt văn hóa trong giao tiếp và thích học tiếng Việt.

II. THỰC TRẠNG:

Qua thực tế giảng dạy và dự giờ thăm lớp tôi nhận thấy:

Khi dạy – học phần Luyện từ và câu cả giáo viên và học sinh còn hạn chế trong việc chủ động truyền thụ và tiếp thu kiến thức

1.Giáo viên:

Cùng với việc ôn luyện về kiến thức, kỹ năng sử dụng các kiểu câu: Ai ( cái gì/con gì) là gì? Ai ( cái gì/ con gì) làm gì? Ai ( cái gì/ con gì) thế nào? là rèn luyện cho học sinh ôn luyện về các dấu câu. Dù đã được dạy từ lớp 2, song thực tế nhiều giáo viên còn lúng túng khi hướng dẫn học sinh làm các bài tập về dấu câu nói chung và bài tập về dấu phẩy nói riêng. Hầu như rất ít sáng tạo, chưa tạo ra các tình huống giao tiếp sinh động để cuốn hút học sinh. Giáo viên chỉ thực hiện đầy đủ các bước, các hoạt động theo quy trình; ít chú ý đến quá trình hoạt động và hiệu quả tổ chức từng hoạt động. Việc đổi mới phương pháp dạy học còn mang tính hình thức.

2.Học sinh:

Học sinh lớp 3 vốn từ còn nghèo và khả năng hiểu nghĩa, sử dụng từ ngữ trong văn bản trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể chưa chính xác, diễn đạt điều cần nói, sử dụng một kiểu câu còn sai, khi làm bài tập nhiều học sinh còn máy móc, thụ động dẫn đến việc viết câu chưa biết sử dụng dấu câu cho thích hợp.

Đặc biệt khi dạy phần dấu câu thì việc dạy về dấu phẩy là khó, khó là vì học sinh chưa được học các kiến thức về ngôn ngữ như thành phần trạng ngữ, khái niệm về các bộ phận đồng chức, đồng chủ ngữ, vị ngữ trong câu... Để nắm được chất lượng thực tế về khả năng về dấu phẩy của học sinh,

III. NỘI DUNG DẠY HỌC VÀ CÁC BIỆN PHÁP DẠY HỌC CHỦ YẾU:

1. Nội dung dạy học:

a) Mở rộng vốn từ

- Ngoài những từ được dạy qua các bài tập đọc, những thành ngữ được cung cấp qua các bài tập viết, HS được mở rộng vốn từ theo từng chủ điểm (Măng non, Mái ấm, Tới trường, Cộng đồng. Quê hương, Bắc – Trung – Nam, Anh em một nhà, Thành thị - nông thôn, Bảo vệ Tổ quốc, Sáng tạo, Nghệ thuật, Lễ hội, Thể

 

thao, Ngôi nhà chung, Bầu trời và mặt đất. Bước đầu được làm quen với một số từ ngữ địa phương thông qua các bài tập luyện từ và câu.

- Thông qua các bài tập đọc:

+ Tìm từ ngữ theo chủ điểm

+ Tìm hiểu, nắm nghĩa của từ.

+ Quản lí, phân loại vốn từ.

+ Luyện cách sử dụng từ.

b) Ôn luyện kiến thức đã học ở lớp 2

- Ôn về các từ chỉ sự vật, từ chỉ hoạt động, trạng thái, từ chỉ đặc điểm ( chủ yếu thông qua các bài tập có yêu cầu nhận diện)

- Ôn về các kiểu câu đã học ở lớp 2: Ai là gì? Ai ( cái gì, con gì) làm gì? Ai thế nào? Các thành phần trong câu đáp ứng các câu hỏi Ai? Là gì? Làm gì? Thế nào? Ở đâu? Bao giờ? Như thế nào? Bằng gì? Vì sao? Để làm gì? Thông qua các bài tập:

+ Trả lời câu hỏi.

+Tìm bộ phận câu trả lời câu hỏi.

+ Đặt câu hỏi cho từng bộ phận câu

+ Đặt câu theo mẫu, ghép các bộ phận thành câu...

- Ôn về một số dấu câu cơ bản: dấu chấm, dấu phẩy, dấu chấm hỏi, dấu chấm than. Thông qua các bài tập:

+ Chon dấu câu đã cho điền vào ô trống.

+ Tìm dấu câu thích hợp điền vào ô trống

+ Điền dấu câu đã cho vào chỗ thích hợp

+ Tập ngắt câu

c) Bước đầu làm quen với các biện pháp tu từ, so sánh và nhân hóa.

- Về biện pháp so sánh, SGK có nhiều loại hình bài tập như:

+ Nhận diện ( Tìm những sự vật được so sánh, những hình ảnh so sánh, các vế so sánh, các từ so sánh, các đặc điểm được so sánh...)

+ Tập nhận biết tác dụng của so sánh

+ Tập đặt câu có dùng biện pháp so sánh.

- Về biện pháp nhân hóa, SGK có những loại hinh bài tập như:

+ Nhận diện phép nhân hóa trong câu; cái gì được nhân hóa? Nhân hóa bằng cách nào.

+ Tập nhận biết cái hay của phép nhân hóa, Tập viết câu, đoạn có sử dụng hình ảnh nhân hóa.

2. Biện pháp dạy học chủ yếu

Các bài dạy luyện từ và câu SGK Tiếng Việt lớp 3 được thiết kế tương tự như ở lớp 2 đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học và phát huy tính tích cực học tập của HS. Để việc giảng dạy có hiệu quả với đối tượng HS cụ thể, ngoài việc nắm vững các kiến thức về từ và câu trong chương trình môn Tiếng Việt ở cả 2 lớp 2 và 3, GV cần lưu ý vân dụng linh hoạt các phương pháp dạy học tích cực, áp dụng các kĩ thuật và hình thức dạy học vào trong các tiết dạy

a) Dạy các bài tập rèn luyện về từ:

 

* Dạng bài tập giúp học sinh nắm nghĩa của từ, mở rộng vốn từ theo quan hệ ngữ nghĩa:

Đối với bài tập này, giáo viên cần giúp học sinh nắm vững yêu cầu của bài tập là hiểu nghĩa của từ. Do đó, giáo viên cần dựa vào hệ thống câu hỏi để học sinh thực hiện tìm những từ có nghĩa ấy hoặc những từ đó có nghĩa như thế nào. Sau đó giáo viên chữa một phần nhỏ của bài tập làm mẫu bằng cách gọi 1 học sinh làm cho cả lớp theo dõi góp ý. Giáo viên tiến hành tổ chức cho học sinh cả lớp làm bài tập. Cuối cùng giáo viên tổ chức cho học sinh trong lớp trao đổi, nhận xét về kết quả, rút ra những điểm ghi nhớ về kỹ năng và kiến thức: học sinh nắm nghĩa của từ và biết cách vận dụng làm bài tập.

Ví dụ: Tìm các từ: bài tập 1 trang 16

  1. Chỉ trẻ em. Mẫu : thiếu niên.
  2. Chỉ tính nết của trẻ em. Mẫu : ngoan ngoãn.

c) Chỉ tình cảm của người lớn đối vơi trẻ em. Mẫu : thương yêu.

* Dạng bài tập mở rộng vốn từ theo chủ điểm, theo ý nghĩa khái quát – từ loại, theo quan hệ cấu tạo từ. Bài tập giúp Hs nắm nghĩa của từ , bài tập hệ thống hóa và phân loại vốn từ, ... giáo viên đều có thể tổ chức cho học sinh khai thác và phát huy vốn tiếng Việt thông qua việc thực hành luyện tập cá nhân hoặc theo cặp, theo nhóm, chuẩn bị các đồ dùng dạy học và phương tiện thích hợp như tranh ảnh, vật thật, mô hình, băng, đĩa,... bảng phụ, bảng nhóm, giấy khổ rộng, phấn hay bút dạ...) để học sinh hứng thú tham gia thực hành một cách nhẹ nhàng như tham gia các trò chơi, cuộc thi gần gũi với lứa tuổi.

Ví dụ: Tìm những từ ngữ chỉ gộp những người trong gia đình ( chủ điểm: Mái ấm ) bài tập 1 trang 33

M: Ông bà, chú cháu…….

b) Dạy các bài tập rèn luyện về câu:

* Đối với các bài tập đặt câu theo mẫu Ai là gì?Ai làm gì?Ai thế nào? Như thế nào? Ở đâu? Bao giờ? Bằng gì? Vì sao? Để làm gì? Giáo viên cần giúp hs luyện tập thực hành theo mẫu là chủ yếu, chưa đòi hỏi kiến thức về các kiểu câu và bộ phận của câu. Giúp học sinh biết nhận ra và biết đặt câu theo các kiểu câu đơn, ngay những bài tập đầu tiên ở dạng này, giáo viên cần cho các em nắm rõ yêu cầu của đề bài và bám theo mẫu cho sẵn, tập trung uốn nắn trong quá trình luyện nói cho học sinh để giúp các em biết vận dụng tốt khi làm bài tập

Ví dụ: Đặt câu theo mẫu Ai thế nào? để miêu tả:

Một bác nông dân.

Một bông hoa trong vườn.

Một buổi sớm mùa đông.

Mẫu: Buổi sớm hôm nay lạnh cóng tay.

* Dạng bài tập về biện pháp so sánh và nhân hóa:

Giáo viên có thể sử dụng các biện pháp gợi ý bằng câu hỏi, làm mẫu, lập bảng hoặc kẻ sơ đồ,... giúp học sinh dễ hình dung được cấu trúc của so sánh, cách nhân hóa.

 

Ví dụ: Tìm những sự vật được so sánh với nhau trong các câu thơ dưói đây: Bài tập 3 trang 43

Thân dừa bạc phếch tháng năm

Quả dừa – đàn lợn con nằm trên cao.

Đêm hè, hoa nở cùng sao

Tàu dừa – chiếc lược chải vào mây xanh.

+ Sự vật được so sánh: quả dừa được so sánh với đàn lợn con

tàu dừa được so sánh với chiếc lược

Ví dụ: dạy bài tập 1 tuần 23 (trang 44 - 45 tập 2). Giáo viên chuẩn bị bảng phụ để hướng dẫn học sinh nhận biết như sau:

Những vật được nhân hóa

Cách nhân hóa

Được gọi như người

Được tả bằng những từ tả người

Kim giờ

bác

thận trọng, nhích từng li, từng li

Kim phút

anh

lầm lì,đi từng bước, từng bước

Kim giây

tinh nghịch, chạy vút lên trước hàng

 

* Dạng bài tập tìm bộ phận của câu thông qua đăt câu hỏi:

Với loại bài tập trên giúp học sinh biết tư duy có hệ thống về ngữ nghĩa và nắm vững hơn về cấu tạo câu để thực hành khi nói và viết. Giáo viên cần lưu ý đến đối tượng học sinh học còn hạn chế về vốn từ và giúp các em bằng cách gợi ý, dẫn dắt hướng làm bài thật dễ hiểu, có như vậy các em mới làm được.

Ví dụ: Tìm các bộ phận của câu: bài tập 3 trang 66

Trả lời câu hỏi “ Ai ( con gì, cái gì)?”.

Trả lời câu hỏi “ Làm gì?”.

Đàn sếu đang sải cách trên cao.

Sau một cuộc dạo chơi, đám trẻ ra về.

Các em tới chỗ ông cụ, lễ phép hỏi.

Ví dụ: Đặt câu hỏi cho các bộ phận câu được in đậm: bài tập 4 trang 66

Mấy bạn học trò bỡ ngỡ đứng nép bên người thân.

Ông ngoại dẫn tôi đi mua vở, chọn bút.

Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng.

* Dạng bài tập về dấu câu (dấu chấm, dấu phẩy, dấu chấm hỏi, dấu chấm than).

+ Giáo viên cần cho học sinh luyện tập bằng nhiều hình thức, biện pháp phù hợp nhằm khai thác sự cảm nhận về tiếng Việt và những hiểu biết ban đầu của học sinh về các mẫu câu hoặc trả lời các câu hỏi đã học. thông qua việc hướng dẫn học sinh làm mẫu (bằng cách thử đặt dấu câu vào một vị trí để xem xét đúng – sai hoặc đặt câu hỏi để xác định ý trọn vẹn theo mẫu câu đã học khi đặt dấu chấm, xác định các bộ phận đồng chức cùng trả lời câu hỏi Ai làm gì?Ai thế nào? Khi nào? Ở đâu? Như thế nào?... để đặt dấu phẩy), giáo viên giúp học sinh bước đầu biết nhận xét về cách dùng dấu câu, chữa lỗi về dấu câu,... từ đó biết sử dụng dấu câu cho đúng, góp phần phục vụ kĩ năng viết cho các em.

 

Ví dụ: Ngắt đoạn văn dưới đây thành 5 câu và chép lại cho dung chính tả: Bải tập 3 trang 80

Trên nương mỗi người một việc người lớn thì đánh trâu ra cày các bà mẹ cúi lom khom tra ngô các cụ già nhặt cỏ đốt lá mấy chú bé đi bắc bếp thổi cơm.

+ Giáo viên có thể vận dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ để hướng dẫn học sinh tìm cách ngắt câu. Giáo viên có thể thực hiện theo các bước sau:

Bước 1: Xác định yêu cầu của bài tập.

Giáo viên cho học sinh đọc thầm yêu cầu bài tập và đọa văn chưa có dấu ngắt câu. Sau đó nêu nhiệm vụ thực hiện.

Bước 2: Quan sát đoạn văn và tách câu

Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc kĩ, quan sát đoạn văn để tìm ra các câu được viết theo kiểu câu đã học( Ai làm gì?), mỗi câu đó sẽ ngăn cách với nhau bằng dấu chấm(.) giáo viên có thể nêu lần lượt các câu hỏi dưới đây để học sinh trả lời:

Các em đã được học những kiểu câu nào?

Theo em, các câu trong đoạn văn trên được viết theo kiểu câu nào đã học?

Đoạn văn gồm mấy câu? Đó là những câu nào?

Bước 3: Trình bày bài tập theo kết quả phân tích.

Sau khi xác định ranh giới các câu trong đoạn văn, học sinh chép lại đoạn văn cho đúng chính tả ( Viết hoa chữ cái đầu câu và đặt dấu chấm cuối câu).

Bước 4: Củng cố bằng cách giáo viên cho học sinh nêu cách làm bài tập để tích lũy kinh nghiệm

Bằng việc phân tích đoạn văn để tìm các câu được viết theo các kiểu câu đã học như trên, học sinh sẽ có phương pháp tư duy mạch lạc, tránh được lối làm bài có đáp số đúng mà không giải thích rõ ràng con đường đi đến đáp số ấy.

* Ở các lớp có học sinh còn nhiều hạn chế về vốn tiếng việt, giáo viên cần dành thời gian thích đáng để hướng dẫn học sinh làm tốt các bài tập vừa sức, cố gắng đạt được yêu cầu tối thiểu.

Đối với một số bài tập có thể thực hiện bằng cách nói hoặc viết, giáo viên có thể chuyển yêu cầu viết thành nói

  • Ví dụ: Bài: so sánh – Dấu chấm – tuần 3
  • + Bái tập 2 trang 24 (TV 3 tập 1) . học sinh chỉ cần nêu các từ so sánh (tựa, như, là, là, là) không cần viết các từ này.

* Cung cấp một số tri thức sơ giản về từ, câu và dấu câu.

- Học sinh chủ yếu thực hành luyện tập để làm quen với kiến thức sẽ học ở các lớp trên. Đối với lớp 3, giáo viên có thể nêu tóm tắt một số ý tóm lược thật ngắn gọn để học sinh nắm chắc bài theo hướng dẫn trong SGV, không sa vào dạy lý thuyết

3. Quy trình giảng dạy

A) Kiểm tra bài cũ: Yêu cầu HS giải BT ở nhà (hoặc bài tập đã làm ở tiết trước); Hoặc nêu ngắn gọn những điều đã học ở tiết trước, cho ví dụ minh họa.

B) Dạy bài mới

- Giới thiệu bài (Tuú tõng bµi giíi thiÖu cho phï hîp).

- Hướng dẫn làm bài tập

 

GV tổ chức cho HS thực hiện từng BT trong SGK theo trình tự sau:

+ Đọc và xác định yêu cầu của BT.

+ Gv giải một phần BT làm mẫu.

+ Hs làm BT theo hướng dẫn của GV.

+ Hs trao đổi, nhận xét về kết quả. Rút ra những điểm ghi nhớ về kiến thức.

C) Củng cố, dặn dò:

GV chốt lại những kiến thức, kĩ năng cần nắm vững ở bài học; nêu yêu cầu thực hành luyện tập ở nhà

 

Duyệt của lãnh đạo TTCM

 

 

 

Phạm Hồng Ngôn